Công dụng quan trọng của đường dẫn truyền tim
Để lại lời nhắn
Bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong số một ở Trung Quốc, với hơn 544.{1}} trường hợp tử vong đột ngột từ trung ương mỗi năm và tỷ lệ mắc bệnh này đang gia tăng cùng với sự thay đổi lối sống và sự già đi của dân số .
Đột tử do tim (SCD) là một cái chết bất ngờ do nguyên nhân tim mạch, thường xảy ra trong vòng một giờ kể từ khi xuất hiện các triệu chứng bệnh tim, đặc trưng bởi mất ý thức đột ngột, ngừng hoạt động đột ngột của tim và suy huyết động, thường do nhịp nhanh thất dai dẳng. hoặc rung tâm thất.
Do đó, việc xác định những người có nguy cơ cao mắc SCD có thể giúp ích rất nhiều trong việc ngăn ngừa căn bệnh này.
Điện tâm đồ (ECG) là phương pháp được sử dụng rộng rãi để phát hiện hoạt động điện của tim và tiêu chuẩn lâm sàng thông thường sử dụng 12-ECG chuyển đạo để đánh giá sức khỏe tim của bệnh nhân. Là thành phần chính kết nối cơ thể bệnh nhân với cơ thể Dụng cụ điện tâm đồ, dây dẫn điện tim đóng một vai trò quan trọng trong chất lượng của tín hiệu điện tâm đồ.
Theo một nghiên cứu mới được công bố trên Communications Medicine, một trong những tạp chí khoa học hàng đầu thế giới, mô hình Deep Learning dựa trên ECG để đánh giá rủi ro SCD có thể phân biệt chính xác hơn các trường hợp SCD với các nhóm đối chứng so với mô hình rủi ro ECG truyền thống. Điều này sẽ giúp các bác sĩ lâm sàng sàng lọc và xác định những người có nguy cơ mắc SCD cao hơn, để họ có thể được kiểm tra thường xuyên nhằm ngăn ngừa SCD xảy ra.
Nhóm đã sử dụng dữ liệu từ hai nghiên cứu SCD ngoài bệnh viện, độc lập về mặt địa lý, dựa vào cộng đồng, với tổng số mẫu là 2.510 trường hợp SCD. Các mô hình học sâu (DL) đã được đào tạo, xác thực và thử nghiệm trên dữ liệu Nghiên cứu về cái chết đột ngột của SCD năm 1796 từ Oregon, Hoa Kỳ (Oregon SUDS) và được xác thực bên ngoài trên dữ liệu Nghiên cứu dự đoán cái chết đột ngột của 714 từ các Cộng đồng đa sắc tộc ở Quận Ventura, California (Ventura PRESTO). Tất cả các trường hợp 12-điện tâm đồ chuyển đạo lúc nghỉ có sẵn để phân tích, được ghi lại trước SCD và không liên quan đến các sự kiện SCD, đều được đưa vào nghiên cứu, ngoại trừ ECG có nhịp tạo nhịp, rung nhĩ hoặc cuồng nhĩ trước đó tạo ra mô hình DL có thể áp dụng cho điện tâm đồ nhịp xoang.
Nhóm đã phát triển mô hình mạng nơ-ron tích chập có khả năng xác định các trường hợp SCD bằng cách sử dụng 12-dạng sóng ECG chuyển đạo. Các nhà nghiên cứu đã thu được hai mẫu đối chứng độc lập từ 1.342 điện tâm đồ của 1.325 cá nhân mắc ít nhất 50% bệnh động mạch vành. Họ đã đào tạo mô hình bằng cách sử dụng 1076 trường hợp SCD từ Oregon SUDS và 1,101 12-điện tâm đồ chuyển đạo trước khi ngừng tim, 597 trường hợp SCD từ nhóm đối chứng và 613 12-điện tâm đồ chuyển đạo. Một đoàn hệ xác nhận riêng biệt, bao gồm 366 ECG trước khi ngừng tim và 200 ECG kiểm soát, đã được sử dụng để xác định thời điểm dừng đào tạo mô hình. Các mẫu nghiên cứu được chia theo cấp độ bệnh nhân để có thể đưa nhiều điện tâm đồ của cùng một bệnh nhân vào cùng một đoàn hệ.
So với các mô hình ECG truyền thống, mô hình DL dựa trên dạng sóng ECG chuyển đạo {{0}}chính xác hơn trong việc xác định các trường hợp SCD, với AUROC thuần tập nội bộ (một thước đo đánh giá mạng lưới thần kinh) là 0. 889 và AUROC được xác nhận bên ngoài là 0,820 và tốt hơn điểm rủi ro ECG truyền thống. Đây là báo cáo đầu tiên cho thấy mô hình DL dựa trên ECG vượt trội hơn các mô hình rủi ro ECG truyền thống trong việc dự đoán SCD ngoài bệnh viện ở cấp độ cộng đồng.

