Trang chủ - Tin t c - Thông tin chi tiết

Nguyên tắc cơ bản và phân loại phát hiện độ bão hòa oxy trong máu


Nguyên tắc cơ bản của phát hiện bão hòa oxy trong máu

Oxy là nền tảng của cuộc sống con người. Sự co thắt và thư giãn của tim làm cho máu của cơ thể con người rung lên qua phổi. Một số lượng nhất định của hemoglobin giảm (HbR) kết hợp với oxy được hấp thụ trong phổi để tạo thành oxy và hemoglobin (HbO2). Khoảng 2% oxy được hòa tan trong huyết tương. Máu này được vận chuyển qua các động mạch đến các mao mạch và sau đó giải phóng oxy trong các mao mạch để duy trì sự trao đổi chất của các tế bào mô. Độ bão hòa oxy trong máu (SpO2)

Đó là khả năng oxy hóa oxyhemoglobin (HbO2) trong máu để giải thích cho tất cả các hemoglobin liên kết (Hb).

Phần trăm thể tích, nồng độ oxy trong máu, là một tham số sinh lý quan trọng của chu kỳ hô hấp. Độ bão hòa oxy chức năng là tỷ lệ nồng độ HbO2 với nồng độ HbO2 Hb, khác với tỷ lệ oxyhemoglobin. Do đó, giám sát độ bão hòa oxy động mạch (SaO2) có thể ước tính khả năng vận chuyển oxy và khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin.

Phân loại phát hiện bão hòa oxy trong máu

Việc đo nồng độ oxy trong máu thường được chia thành hai loại: phương pháp điện hóa và phương pháp quang học.

Phương pháp điện hóa truyền thống đo độ bão hòa oxy là lần đầu tiên thu thập máu từ cơ thể người (thường được sử dụng nhất là lấy máu động mạch), và sau đó sử dụng máy phân tích khí máu để phân tích điện hóa và đo áp suất một phần của oxy động mạch (PaO2) ) trong vòng vài phút. Và tính toán độ bão hòa oxy động mạch (SaO2). Bởi vì phương pháp này đòi hỏi phải đâm thủng hoặc đặt nội khí quản, gây đau cho bệnh nhân và không thể theo dõi liên tục, vì vậy khi ở trong tình trạng nguy hiểm, bệnh nhân không được điều trị kịp thời. Ưu điểm của phương pháp điện hóa là kết quả đo chính xác và đáng tin cậy, nhược điểm là nó cồng kềnh và không thể theo dõi liên tục, và là phương pháp đo oxy hóa bị hư hỏng.

Phương pháp quang học là phương pháp đo quang học mới khắc phục được những thiếu sót của phương pháp điện hóa. Nó là phương pháp đo oxy trong máu không xâm lấn liên tục, có thể được sử dụng trong các phòng cấp cứu, phòng phẫu thuật, phòng phục hồi và nghiên cứu giấc ngủ. Hiện nay, đo oxy xung (Pulse Oximetry) được sử dụng. Nguyên tắc là để phát hiện những thay đổi trong hấp thu máu bằng ánh sáng, và để đo lường tỷ lệ phần trăm của tổng hemoglobin (Hb) trong oxyhemoglobin (HbO2). Nhận SpO2. Ưu điểm của phương pháp này là nó có thể liên tục đo cơ thể con người mà không bị hư hại, và thiết bị này rất đơn giản và thuận tiện để sử dụng, vì vậy nó đã được trả tiền nhiều hơn và chú ý hơn. Điểm bất lợi là độ chính xác của phép đo thấp hơn so với phương pháp điện hóa và lỗi do giá trị oxy trong máu thấp hơn. Oximeters tai, oximeters đa bước sóng và oximeter xung vừa được giới thiệu đã xuất hiện. Lỗi đo lường của đo oxy xung mới nhất có thể được kiểm soát trong vòng 1% để đáp ứng các yêu cầu sử dụng lâm sàng. Mặc dù chúng không đạt yêu cầu ở một số khía cạnh nhưng lợi ích lâm sàng của chúng đã được công nhận rộng rãi.


Gửi yêu cầu

Bạn cũng có thể thích