Ngành công nghiệp chẩn đoán trong ống nghiệm mở ra một giai đoạn phát triển nhanh chóng
Để lại lời nhắn
Sau khi dịch viêm phổi mạch vành mới bùng phát, làm thế nào để nhanh chóng và chính xác sàng lọc và chẩn đoán bệnh nhân viêm phổi mạch vành mới đã trở thành ưu tiên hàng đầu của công tác phòng chống dịch bệnh. Trong bối cảnh sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ mới khác nhau và xúc tác của dịch viêm phổi vương miện mới, ngành công nghiệp chẩn đoán trong ống nghiệm (IVD) sẽ phát triển nhanh chóng và dự kiến sẽ trở thành một trong những thị trường tích cực và phát triển nhanh nhất trong ngành công nghiệp thiết bị y tế trong tương lai.
Công nghệ mới, mô hình mới và nhu cầu mới mở ra không gian mới
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ sinh học, quy mô thị trường của ngành công nghiệp chẩn đoán trong ống nghiệm toàn cầu đang cho thấy một xu hướng tăng trưởng nhanh chóng. Theo dữ liệu từ China In Vitro Diagnostic Network (CAIVD), trong năm 2013, quy mô thị trường toàn cầu của ngành chẩn đoán trong ống nghiệm là khoảng 60 tỷ đô la Mỹ và nó đã vượt quá 80 tỷ đô la Mỹ trong năm 2019, với tốc độ tăng trưởng kép trung bình hàng năm là 6%. Dự kiến quy mô thị trường sẽ vượt quá 900 trong năm 2020. 100 triệu đô-la Mỹ.
Có nhiều phân khu trong ngành chẩn đoán trong ống nghiệm, có thể được chia thành sáu lĩnh vực: chẩn đoán miễn dịch, chẩn đoán sinh hóa, chẩn đoán máu, chẩn đoán phân tử, chẩn đoán vi sinh và chẩn đoán điểm trong thời gian (POCT) dựa trên các nguyên tắc và phương pháp phát hiện. Từ quan điểm của xu hướng phát triển của thị trường chẩn đoán trong ống nghiệm toàn cầu, trong những năm gần đây, thị phần của chẩn đoán sinh hóa lâm sàng và các sản phẩm chẩn đoán miễn dịch đã giảm nhẹ, trong khi thị phần của nhận dạng axit nucleic, vi sinh vật học, mô học và đo tế bào học dòng chảy đã tăng lên từng năm. , Tốc độ tăng trưởng kép trung bình hàng năm vượt quá 10%. Năm 2019, trong số các phân khúc khác nhau của thị trường chẩn đoán trong ống nghiệm toàn cầu, thị trường chẩn đoán miễn dịch có thị phần lớn nhất, chiếm 23%; tiếp theo là thị trường chẩn đoán sinh hóa, chiếm 17%.











